Giá vàng 9999
(Nguồn: )
   Tỷ giá
(Nguồn: )
   Thời tiết
search

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt ở thai phụ

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi lượng huyết cầu tố trong máu thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình tạo máu. Ở nước ta, thiếu máu do thiếu sắt là một trong những loại thiếu máu thường gặp nhất. Bệnh hay gặp ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai, cho con bú và trẻ em. Nguyên nhân chủ yếu là do khẩu phần ăn thiếu và không cân đối các chất dinh dưỡng, kiêng khem trong thời kỳ mang thai.


  

Tác hại của thiếu máu: Thiếu máu, thiếu sắt sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trẻ em bị thiếu máu kém phát triển cả về thể chất và trí tuệ, phụ nữ mang thai bị thiếu máu dễ có nguy cơ bị sảy thai, sinh non, trẻ nhẹ cân, chảy máu và các tai biến khác khi sinh.

Các dấu hiệu nhận biết thiếu máu: Để phòng chống căn bệnh này trước hết bản thân mỗi người cần phải biết được những dấu hiệu cơ bản của bệnh thiếu máu để từ đó có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Thiếu máu, thiếu sắt là quá trình diễn ra lặng lẽ không có triệu chứng rõ ràng, chỉ khi bị thiếu máu nặng biểu hiện bên ngoài mới xuất hiện như: mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt, da xanh xao... Phụ nữ có thai bị thiếu máu thường có biểu hiện mệt mỏi, da xanh, niêm mạc nhợt, nhức đầu, ù tai, ruồi bay…nếu bị thiếu máu nặng thường có dấu hiệu khó tập trung, chóng mặt, tim đập nhanh, thai chậm phát triển...

Phụ nữ có nguy cơ thiếu sắt cao bởi nhu cầu mỗi ngày cần 15mg, trong khi chế độ ăn thường chỉ cung cấp khoảng 10mg/1ngày. Do đó để đảm bảo duy trì sức khỏe cần phải uống viên sắt mỗi tuần 1 lần kết hợp với chế độ dinh dưỡng cân đối. Với những phụ nữ có dự định mang thai nên tăng cường ăn các loại thực phẩm giàu sắt và axit folic do nhu cầu về sắt tăng rất cao. Axít folic giúp phòng dị tật bẩm sinh nhất là dị tật ống thần kinh.

Để phòng chống thiếu máu do thiếu sắt, phụ nữ cần uống bổ sung viên sắt và axit folic hoặc viên đa vi chất 1 viên mỗi tuần trong 16 tuần liên tục/năm, đối với phụ nữ mang thai việc bổ sung viên sắt cần thực hiện ngay khi có thai cho tới khi sinh một tháng.

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt: Sắt được hấp thu chủ yếu ở ruột non, là thành phần quan trọng của huyết cầu tố, thu nhận ôxy để máu đưa đến nuôi dưỡng tế bào, đảm bảo sự sống cho cơ thể. Hàng ngày, sắt được cung cấp vào cơ thể qua thức ăn có nguồn gốc từ động vật và thực vật. Để phòng chống thiếu máu, thiếu sắt phụ nữ có thai cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý; cần đa dạng hóa bữa ăn, sử dụng các loại thực phẩm giàu chất sắt và axit folic như: gan động vật, lòng đỏ trứng, thịt cá, đậu đỗ và các loại rau có màu xanh thẫm như: rau đay, rau muống, rau dền, bông cải xanh... các loại quả có nhiều Vitamin C giúp hấp thu chất sắt. Hàm lượng sắt trong thức ăn tiêu thụ phải lớn hơn 10 lần nhu cầu sắt của cơ thể. Hạn chế sử dụng những thực phẩm ức chế việc hấp thu sắt như: cà phê, côca và nước chè... nhằm tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt để cung cấp cho thai nhi, nhau thai.

Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ: uống 1 viên mỗi tuần trong 16 tuần liên tục trong 1 năm. Đối với phụ nữ mang thai cần uống bổ sung viên sắt và axít folic hoặc viên đa vi chất 1 viên mỗi ngày ngay từ khi phát hiện có thai đến sau sinh 1 tháng. Đối với trẻ em, trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, trẻ đẻ non việc bổ sung viên sắt cần theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ.

Để sắt được hấp thu tốt nhất, nên uống giữa 2 bữa ăn. Sự có mặt của Vitamin C sẽ làm tăng hấp thu sắt, do đó có thể uống viên sắt chung với nước cam hoặc nước trái cây, tránh uống thuốc với trà, cà phê, rượu vì sẽ làm giảm hấp thu sắt.

Viên sắt cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh sáng vì sắt dễ bị oxy hóa. Khi uống bổ sung viên sắt cũng gặp một vài trở ngại nho nhỏ vì viên sắt có vị tanh dễ gây buồn nôn, đi cầu phân đen hoặc gây táo bón. Thai phụ cần trao đổi cặn kẽ với bác sĩ để được hướng dẫn cụ thể.


Bs Phạm Thị Kim Chi

(Tài liệu tham khảo: Nguyễn Thị Ngọc Phượng – Xử trí vấn đề thiếu máu ở phụ nữ có thai; Ngyễn Thị Kim Hưng – Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng, tài liệu dành cho cán bộ y tế cơ sở, TTDDTP 1998; Prenatal Care, William’s obstetrics 18th edition – 1997, trang 141, 261-267)


    Bình luận (0)         Gửi bạn bè         Bản in
Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC |