Giá vàng 9999
(Nguồn: )
   Tỷ giá
(Nguồn: )
   Thời tiết
search

Bệnh Kawasaki


*    Bệnh Kawasaki là gì?

 

Bệnh bất thường được đặc trưng bởi sự viêm các mạch máu kích thước trung bình trong toàn bộ cơ thể.

Trong một số trường hợp, các biến chứng lâu dài bao gồm cả tổn thương động mạch vành có thể xảy ra.

Hầu như chỉ xảy ra ở trẻ em; hầu hết các bệnh nhân đều dưới năm tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam thường cao hơn gấp hai lần so với ở nữ.

Nếu không điều trị, tỉ lệ tử vong 1% xảy ra trong 6 tuần đầu của bệnh và còn 0,17% nếu được điều trị.

Căn bệnh đặt tên theo tên một bác sĩ nhi người Nhật Bản, người đã mô tả đặc trưng của bệnh này vào năm 1967. Ở Mỹ, bệnh này được ghi nhận xảy ra đối với mọi chủng tộc và dân tộc nhưng nó xảy ra thường xuyên nhất đối với trẻ em Mỹ có nguồn gốc Châu Á. Tuy nhiên, theo ước tính, căn bệnh này tấn công 10 trong số mỗi 100.000 trẻ em ở độ tuổi dưới 5 tuổi.

*    Nguyên nhân gây Bệnh Kawasaki là gì?

Đến nay, chưa xác định được nguyên nhân nào gây ra Bệnh Kawasaki.

Hiện tại, không có chứng cứ cho thấy rằng bệnh này lây truyền.

*    Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh này là gì?

Sốt khởi đầu và kéo dài 2-3 tuần, kém đáp ứng với thuốc hạ sốt và kháng sinh. Tuy nhiên một số trường hợp không sốt.

Viêm kết mạc 2 bên, sung huyết, không có tụ mủ, không đau.

Môi đỏ rực, sưng, nứt dọc và chảy máu, niêm mạc hầu họng đỏ rực, “lưỡi dâu” điển hình.

Hạch cổ xuất hiện 50-75% (đau hoặc không đau, không di động, không tụ mủ), triệu chứng chính giúp chẩn đoán bệnh. (Nghĩ đến bệnh ở những trường hợp sốt và viêm hạch cổ không đáp ứng với KS)

Lòng bàn tay và lòng bàn chân thường chuyển sang màu đỏ sáng. Bàn tay và bàn chân có thể sưng lên, tróc da đầu chi (tuần 2-3 của bệnh), Beaus line rãnh sâu nằm ngang trên móng. Trẻ thường rất khó chịu và từ chối đi đứng hay cầm nắm.

Hồng ban dạng sẩn không đặc hiệu phân bố nhiều ở thân, có thể có ở mặt, chi, không bao giờ có bóng nước, không ngứa.

 

*    Diễn tiến bệnh:

Cấp: Kéo dài 1-2 tuần, biểu hiện sốt, viêm kết mạc, đỏ môi miệng, sưng đỏ lòng bàn tay chân, hồng ban, hạch cổ, viêm màng não vô trùng, tiêu chảy, rối loạn chức năng gan. Viêm cơ tim có thể gặp trong giai đoạn này.

Bán cấp: Sau khi khởi phát bệnh 1-2 tuần, sốt, hồng ban, hạch cổ biến mất. Viêm kết mạc vẫn còn, tróc da đầu chi xuất hiện và hết sau 4 tuần. Phình mạch vành thường phát triển giai đoạn này, gây đột tử cao nhất trong giai đoạn này (do không điều trị, các biểu hiện sẽ mất, nhưng phình mạch vành thì không).

Hồi phục: 6-8 tuần sau khởi phát.

*    Biến chứng tim mạch: là nguyên nhân bệnh tim mắc phải ở trẻ em.

Phình mạch vành: di chứng của viêm mạch máu, xảy ra 20% nếu không điều trị (điều trị tỉ lệ còn 5%)

Nhồi máu cơ tim: huyết khối trong phình mạch, hẹp mạch vành. Triệu chứng ở trẻ: sốc, bức rứt, nôn ói, đau bụng, đau ngực.

Hở van 2 lá hoặc 3 lá

Biến chứng hệ tiêu hóa: lồng ruột, giả tắc ruột do thiếu máu nuôi ruột

Sang thương ở mắt: viêm màng bồ đào, viêm mống mắt thể mi,..

Biến chứng thần kinh: viêm não màng não, lơ mơ, hôn mê,..

*    Làm sao để bác sĩ xác định được trẻ bị Bệnh Kawasaki?

Quan sát các dấu hiệu và triệu chứng, và sau khi đã loại bỏ khả năng bị các bệnh khác mà cũng gây ra tình trạng tương tự.

Các xét nghiệm máu được dùng để phát hiện chứng thiếu máu nhẹ, số lượng bạch cầu trên mức trung bình, và tỉ lệ lắng đọng hồng cầu cao cho thấy bệnh nhân bị viêm mạch máu. Sự tăng vọt về số lượng tiểu cầu, thành phần hình khối chính ở trong máu, cũng có thể được phát hiện.

Các xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy các bạch cầu bất thường ở trong nước tiểu.

Nhịp tim bất thường (chứng loạn nhịp tim) và các bằng chứng của sự căng cơ tim, cho thấy có sự liên quan đến tim, có thể được phát hiện bởi máy điện tâm đồ (EKG). Siêu âm tim ký (một xét nghiệm chẩn đoán cấu trúc và chức năng của tim và mạch máu bằng sóng âm) là cần thiết để đánh giá được các thương tổn có thể có đối với tim hay các mạch máu lớn.

*    Làm sao để điều trị Bệnh Kawasaki?

Gamma globulin (một phần protein của máu người) liều cao tiêm vào tĩnh mạch là phương pháp điều trị được chọn lựa cho bệnh nhân bị Bệnh Kawasaki. Phương pháp điều trị này hiệu quả nhất trong việc giảm viêm và ngăn ngừa tổn thương động mạch vành nếu được bắt đầu trong 10 ngày đầu tiên bị bệnh. Thỉnh thoảng, ớn lạnh và sốt có thể xuất hiện lúc tiêm thuốc. Việc này được chữa bằng cách ngưng tiêm thuốc và dùng antihistamine trước khi tiêm lại.

Aspirin liều cao cũng được cho sử dụng cùng với gamma globulin trong giai đoạn cấp tính của bệnh cho đến khi giảm sốt. Sử dụng aspirin liều cao có thể gây ra đau bụng, chảy máu dạ dày và ù tai. Aspirin nên được ngưng nếu xuất hiện bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào kể trên. Hội chứng Reye là một biến chứng hiếm gặp của liệu pháp aspirin xuất hiện ở trẻ em có tiếp xúc với bệnh thủy đậu hoặc virút cúm trong khi đang sử dụng aspirin liều cao.

*    Tuy vậy, bạn nên gọi ngay cho bác sĩ nếu xuất hiện bất cứ triệu chứng nào sau đây:

Dấu hiệu nhiễm độc aspirin

·                     Thở gấp và nông gây ra do aspirin liều cao

·                     Kêu đau dạ dày (có hoặc không có nôn ra máu)

·                     Sốt trở lại hoặc xuất hiện trở lại các triệu chứng khác của Bệnh Kawasaki.

·                     Lưu ý: Việc dùng thuốc miễn dịch thường quy đối với bệnh sởi, quai bị, và bệnh rubeon (MMR) phải được hoãn trong 12 tháng, sau khi điều trị bằng gamma globulin.

*    Con tôi có thể bị bệnh này trong tương lai không?

Rất hiếm, Bệnh Kawasaki có thể xuất hiện lại trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau lần bị bệnh đầu tiên (ở Nhật Bản, theo báo cáo, việc bệnh xuất hiện trở lại chỉ vào khoảng 4.3% trong tất cả các trường hợp).


    Bình luận (0)         Gửi bạn bè         Bản in
Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC |