Giá vàng 9999
(Nguồn: )
   Tỷ giá
(Nguồn: )
   Thời tiết
search

CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ SAU 10 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ DÂN SỐ - SỨC KHỎE SINH SẢN GIAI ĐOẠN 2001-2010.

Đạt được mức sinh thay thế, chất lượng dân số được nâng lên, sức khỏe sinh sản được cải thiện, nhận thức về dân số và sức khỏe sinh sản của người dân có chuyển biến tích cực, mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – kế hoạch hóa gia đình (CSSKSS, KHHGĐ) được củng cố và phát triển… là những thành tựu đạt được sau 10 năm Việt Nam thực hiện Chiến lược quốc gia về Dân số - SKSS giai đoạn 2001-2010.


Những kết quả đáng phấn khởi 

Sau 10 năm triển khai thực hiện Chiến lược DS-SKSS, Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ tiêu đề ra. Xu thế giảm sinh được duy trì và mục tiêu đạt mức sinh thay thế đã được thực hiện. Từ năm 1999 đến năm 2009, tổng tỷ suất sinh giảm từ 2,33 con xuống còn 2,03 con, tỷ suất sinh thô đã giảm từ 19,9‰ xuống còn 17,6‰, tỷ lệ tăng dân số giảm từ 1,5% xuống còn 1,1%. Năm 2005, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế như mục tiêu Chiến lược Dân số đề ra.

Tỷ lệ tăng dân số đạt mức thấp nhất trong nửa thế kỷ qua. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, dân số Việt Nam trên 85 triệu người và dự kiến là 87 triệu người vào năm 2010, đạt mục tiêu Chiến lược. Kết quả giảm sinh còn làm thay đổi rõ rệt cơ cấu dân số theo tuổi. Việt Nam bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, tạo lợi thế về nguồn nhân lực, một điều kiện quan trọng để nền kinh tế có bước tăng trưởng bứt phá.

Chất lượng dân số được nâng lên. Đến năm 2009, tuổi thọ bình quân đã đạt 72,8 tuổi, tăng 4,3 tuổi so với năm 1999, đặc biệt tuổi thọ của phụ nữ tăng 5,5 tuổi. Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người tăng hơn hai lần. Những kết quả này vượt xa so với các chỉ báo kiểm định mục tiêu nêu trong Chiến lược Dân số. Với những thành tựu kinh tế, chăm sóc sức khỏe và giáo dục, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng từ 0,690 điểm (năm 2000) lên 0,725 điểm (năm 2009).

SKSS được cải thiện. Nhiều mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược SKSS đã đạt sớm hơn so với kế hoạch và tốt hơn so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tỷ số chết mẹ giảm từ 100 (năm 2000) xuống còn 75 trên 100.000 trẻ đẻ sống (năm 2008). Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm mạnh ở tất cả các vùng, bình quân cả nước giảm từ 36,7‰ (năm 1999) xuống còn 16‰ (2009).

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 33,8% (năm 2000) xuống còn 18,9% (năm 2009). Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% (năm 2000) lên 79,5% (năm 2008), trong đó tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại tăng tương ứng từ 61% lên 68,8%; một số biện pháp tránh thai mới được thử nghiệm và đã được triển khai rộng trên toàn quốc.

Bên cạnh đó, sau 10 năm thực hiện Chiến lược, nhận thức, thái độ, hành vi về DS và SKSS của các nhóm đối tượng đã có chuyển biến tích cực. Công tác truyền thông, giáo dục được đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách tiếp cận. Quy mô gia đình ít con ngày càng được chấp nhận rộng rãi; hiểu biết và thực hành về KHHGĐ, SKSS, SK bà mẹ và trẻ em trong các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt. Mạng lưới dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ được củng cố và phát triển.

Đến nay, tất cả các tỉnh, thành phố đều có Trung tâm SKSS, hầu hết các trung tâm y tế quận (huyện) đều có khoa SKSS. Tại cấp xã, có 98,6% số xã đã có trạm y tế; 55,5% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 65,9% số trạm y tế xã có bác sỹ; 93,0% có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; 84,4% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động; 100% thôn, bản, tổ dân phố có cộng tác viên dân số.

Đến nay, trên toàn quốc đã có 12 bệnh viện chuyên khoa phụ sản và 12 bệnh viện chuyên khoa nhi. Bên cạnh hệ thống y tế công lập còn có hàng chục nghìn cơ sở y tế tư nhân, trong đó có 2 bệnh viện phụ sản cung cấp dịch vụ CSSKSS và KHHGĐ.

Những kết quả nói trên đã dẫn tới sự cải thiện cơ bản tình trạng DS- SKSS nước ta hiện nay so với những năm cuối của thế kỷ XX: Quy mô dân số tăng chậm lại; tỷ lệ phụ thuộc giảm nhanh và đạt được “cơ cấu dân số vàng”; chất lượng dân số, tình trạng SKSS được cải thiện. Điều này đã, đang và sẽ tác động toàn diện và tích cực đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Còn nhiều hạn chế, bất cập

Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập được bộc lộ, thể hiện tính bất ổn trong công tác DS-SKSS. Đầu tiên là tình trạng nhiều địa phương chưa đạt mức sinh thay thế. Mặc dù trong 10 năm qua, nhiều địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn đã đạt tốc độ giảm sinh rất nhanh, nhưng do xuất phát điểm mức sinh cao nên năm 2009 vẫn còn 28/63 tỉnh, thành phố (chiếm 34% dân số cả nước) thuộc các vùng trung du và miền núi phía bắc, bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên chưa đạt.

Chất lượng dân số chậm được cải thiện. Mặc dù chỉ số phát triển con người tăng lên, nhưng chưa làm thay đổi vị trí trong danh sách các nước được xếp hạng về chỉ số này. Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình. Số năm trung bình sống khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nước trên thế giới vào năm 2009.

Nhiều vấn đề về KHHGĐ, CSSKSS chưa được giải quyết tốt. Chất lượng dịch vụ KHHGĐ còn hạn chế, việc điều phối cung ứng phương tiện tránh thai chưa linh hoạt, chưa chủ động được nguồn cung cấp, dẫn đến thiếu và thừa cục bộ ở một số nơi.

Mặc dù có sự cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn sự cách biệt lớn giữa các vùng về nhiều chỉ báo SKSS như tử vong mẹ, tử vong trẻ em và suy dinh dưỡng. Tử vong sơ sinh vẫn còn khá cao, chiếm tới 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 50% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao. Tình trạng thừa cân béo phì trong lứa tuổi học đường đang có dấu hiệu gia tăng, đặc biệt là ở khu vực thành phố. Tình trạng phá thai vẫn còn nhiều, ở mức 29 ca phá thai trên 100 trẻ đẻ sống, trong đó vẫn còn nhiều trường hợp phá thai nhiều lần.

Việc đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ về SKSS, sức khỏe tình dục cho các nhóm vị thành niên, thanh niên, nam giới, người di cư, người khuyết tật, người có HIV; dự phòng và điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản/bệnh lây truyền qua đường tình dục (RTI/STI), vô sinh đã được đề cập trong chiến lược nhưng việc can thiệp còn hạn chế. Bạo lực gia đình, bạo hành giới trong SKSS, SKTD vẫn còn là vấn đề bức xúc.

Sàng lọc phát hiện ung thư vú và ung thư cổ tử cung chưa được thực hiện rộng rãi. Sự phối hợp giữa hệ thống phòng chống ung thư và chăm sóc SKBMTE chưa thật tốt.



Khánh Linh (tổng hợp)


    Bình luận (0)         Gửi bạn bè         Bản in
Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC | Y TẾ DỰ PHÒNG THỦ ĐỨC |